Quân đội Mỹ rút khỏi Iraq sau 20 năm: Di sản và tương lai là gì?

Nguồn hình ảnh, Getty Images
- Tác giả, Luis Barrucho
- Vai trò, BBC World Service
- Được đăng
- Thời gian đọc: 11 phút
Mỹ dự kiến hoàn tất việc rút toàn bộ lực lượng quân sự còn lại khỏi Iraq trước ngày 30/9, kết thúc sự hiện diện quân sự đã định hình quốc gia này trong hơn hai thập kỷ.
Sự kiện này đặt dấu chấm hết cho một chiến dịch quân sự bắt đầu bằng việc xâm nhập năm 2003 nhằm lật đổ ông Saddam Hussein, kéo theo nhiều năm nổi dậy và bạo lực sắc tộc. Dù rút khỏi Iraq vào năm 2011, nhưng quân đội Mỹ đã quay trở lại vào năm 2014 để hỗ trợ việc đánh bại tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS).
Việc rút quân lần này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng kéo dài với Iran khiến các binh lính Mỹ tại Iraq tiếp tục đối mặt nguy cơ bị tấn công.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng việc binh sĩ Mỹ rời đi không đồng nghĩa rằng sức ảnh hưởng của Mỹ tại Iraq biến mất.
Điều gì đang diễn ra và vì sao?

Nguồn hình ảnh, AFP
Về mặt chính thức, việc rút quân là kết quả của thỏa thuận năm 2024 giữa Washington và Baghdad nhằm chấm dứt Chiến dịch Inherent Resolve (tạm dịch là: Nhổ tận gốc), do Mỹ dẫn đầu nhằm chống lại lực lượng IS.
Ở thời điểm cao trào của chiến tranh Iraq năm 2007, Mỹ triển khai hơn 170.000 binh sĩ tại nước này. Đến tháng 12/2023, trước khi thỏa thuận rút quân được ký kết, con số này giảm xuống còn khoảng 2.400 quân, theo Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM).
Kể từ đó, lực lượng Mỹ đã thu hẹp hiện diện và chỉ còn duy trì một nhóm nhỏ ở khu vực Kurdistan, theo thông tin báo chí.
"Việc rút quân này đã được chính phủ Iraq tiền nhiệm nhất trí vì sứ mệnh đánh bại ISIS đã hoàn thành mục tiêu tại Iraq," ông Safwan Al-Amin, chuyên gia cấp cao không thường trú thuộc Sáng kiến Iraq của Hội đồng Đại Tây Dương (Atlantic Council), nói.
Động thái này cũng phản ánh áp lực chính trị kéo dài trong nội bộ Iraq.
Ông Douglas Silliman, Đại sứ Mỹ tại Iraq giai đoạn 2016-2019, cho biết nhiều nhiệm kỳ chính phủ Iraq liên tiếp chịu sức ép phải chấm dứt hiện diện quân sự của Mỹ vì nhiều người coi đó là xâm phạm chủ quyền quốc gia.
"Một số chính phủ Iraq, dưới áp lực từ các phe phái thân Iran và một bộ phận cộng đồng người Shiite, đã thúc đẩy nỗ lực nhằm buộc các lực lượng này rời khỏi đất nước," ông Silliman, hiện là Chủ tịch Viện Các quốc gia Arab vùng Vịnh tại Washington, nói với BBC.
Quân đội Mỹ từng rút khỏi Iraq năm 2011 dưới thời Tổng thống Barack Obama nhưng quay lại ba năm sau theo đề nghị của Baghdad sau khi IS chiếm giữ nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn. Kể từ đó, vai trò của Mỹ chuyển từ tác chiến trực tiếp sang huấn luyện, cố vấn và chia sẻ tình báo.

Nguồn hình ảnh, AFP via Getty Images
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng thời điểm Mỹ rút quân trong tháng này xuất phát từ những lo ngại về an ninh nhiều hơn là việc chính thức kết thúc nhiệm vụ chống IS.
"Vấn đề ở đây là rủi ro, chứ không phải ISIS. Lý do đó đã hết giá trị từ nhiều năm trước," ông H.A. Hellyer, chuyên gia cấp cao của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI), nhận định.
Ông Hellyer chỉ ra các cuộc tấn công gần đây nhằm vào cơ sở của Mỹ ở miền bắc Iraq trong bối cảnh căng thẳng khu vực liên quan đến Iran, cho rằng Washington ngày càng xem số nhân sự còn lại tại Iraq là những mục tiêu dễ tổn thương.
Ông Al-Amin cũng đồng tình, lưu ý rằng giới chức Mỹ và Iraq trước đây từng thảo luận về việc duy trì một lực lượng Mỹ quy mô nhỏ ngay cả sau khi sứ mệnh của liên quân kết thúc.
"Với số lượng binh sĩ ít ỏi và khả năng triển khai sức mạnh hạn chế, cuộc chiến với Iran cho thấy sự hiện diện của họ mang tính rủi ro nhiều hơn là một tài sản chiến lược," ông nói.
Di sản của Mỹ ở Iraq là gì?

Nguồn hình ảnh, Universal History Archive/Universal Images Group via Getty Images
Hơn hai thập kỷ sau cuộc tiến vào Iraq, vẫn còn những khác nhau trong cách nhìn nhận di sản mà quân đội Mỹ để lại.
Ông Al-Amin mô tả đó là "một bức tranh nhiều gam màu".
"Cuộc tiến công của Mỹ không đạt được các mục tiêu đề ra, cũng như việc thay đổi chế độ không đáp ứng được kỳ vọng của người Iraq về một đất nước ổn định và thịnh vượng," ông nói, cho rằng cuộc chiến đã làm khu vực bất ổn và tạo điều kiện để Iran mở rộng ảnh hưởng.
Ông Silliman đồng ý rằng quá trình chuyển đổi đầy biến động, nhưng cho biết nhiều người Iraq từng nói với ông rằng họ trân trọng những thay đổi chính trị diễn ra sau khi Saddam Hussein bị lật đổ.
Theo ông, quan niệm rằng "Iraq phải được điều hành bởi một nền dân chủ đại diện" đã dần bén rễ, dù việc "xây dựng truyền thống dân chủ trong một xã hội chưa từng thực sự trải nghiệm điều đó sẽ cần nhiều thời gian".
Ông Yerevan Saeed, Giám đốc Sáng kiến Hòa bình Toàn cầu người Kurd tại Đại học Mỹ ở Washington, cũng có cái nhìn tích cực hơn.
"Việc loại bỏ chế độ cũ thực sự là một bước ngoặt lớn," ông nói, đồng thời cho rằng những người chỉ trích thường bỏ qua mức độ hà khắc của chế độ bị lật đổ.
Dù tham nhũng vẫn dai dẳng, ông tin rằng Iraq ngày nay có nhiều tự do chính trị và tính đa nguyên hơn so với trước năm 2003, đặc biệt là tại khu vực Kurdistan thuộc Iraq.
Trong khi đó, ông Hellyer bác bỏ việc đánh giá di sản của Mỹ thông qua lăng kính dân chủ.
"Mọi người nên ngừng đặt câu hỏi rằng 'Liệu Mỹ có xây dựng được nền dân chủ ở Iraq hay không?'. Câu trả lời là không, và chuyện đó đã ngã ngũ rồi," ông nói.
Theo ông, di sản quan trọng hơn nằm ở cán cân quyền lực trong khu vực: "Việc lật đổ Saddam cuối cùng đã dẫn tới việc các mạng lưới ảnh hưởng của Iran cắm rễ sâu trong chính bộ máy nhà nước, thay thế vai trò đối trọng mà Washington đã loại bỏ."
Tuy nhiên, cả bốn chuyên gia đều thống nhất rằng Iraq vẫn còn cách rất xa hình mẫu dân chủ ổn định mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ kỳ vọng vào năm 2003.
Theo họ, tham nhũng vẫn diễn ra phổ biến, trong khi các nhóm vũ trang tiếp tục nắm giữ ảnh hưởng đáng kể bên cạnh bộ máy nhà nước chính thức. Điều này đặc biệt thể hiện ở Lực lượng Huy động Nhân dân (PMF) gồm phần lớn các nhóm dân quân Shiite, lực lượng mà Baghdad vẫn đang tìm cách đặt hoàn toàn dưới sự kiểm soát của nhà nước.
Tiếp theo là gì?

Nguồn hình ảnh, Gamma-Rapho/Getty Images
Ông Al-Amin cho rằng rút quân không đồng nghĩa với việc Mỹ chấm dứt ảnh hưởng tại Iraq.
"Mỹ vẫn nắm giữ nhiều đòn bẩy ảnh hưởng vì Iraq phụ thuộc vào hoạt động xuất khẩu dầu bằng đồng USD. Iraq cũng vẫn dựa vào Mỹ trong mua sắm vũ khí và cần hỗ trợ ngoại giao của Washington để ứng phó với những thách thức từ các quốc gia láng giềng," ông nói.
Theo ông Saeed, một phần ảnh hưởng đó được duy trì thông qua hiện diện ngoại giao của Washington tại Iraq.
"Mỹ có đại sứ quán lớn nhất thế giới ở Baghdad. Mỹ cũng có tổng lãnh sự quán lớn nhất thế giới ở Erbil," ông nói, đồng thời lưu ý rằng cả hai cơ sở này vẫn cần được bảo vệ sau khi quân đội Mỹ rút đi.
Ông Silliman cho rằng điều mà ông gọi là "mối quan hệ quân sự rất sâu sắc" giữa hai nước sẽ tiếp tục được duy trì, bao gồm hỗ trợ huấn luyện và hoạch định cho quân đội Iraq, Cơ quan Chống khủng bố Iraq (CTS) cũng như lực lượng Peshmerga của khu tự trị Kurdistan.
Tuy nhiên, ẩn số lớn nhất vẫn là các nhóm dân quân được Iran hậu thuẫn tại Iraq. Thủ tướng Iraq Ali al-Zaidi ban đầu muốn đưa các lực lượng này hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của nhà nước trước hạn chót 30/9, nhưng theo các nguồn tin, họ đang tìm cách kéo dài thời hạn này tới cuối năm 2027.
Các chuyên gia cũng có quan điểm khác nhau về tính khả thi của lộ trình đó.
"Điều đó sẽ không xảy ra," ông Saeed nhận định, cho rằng các nhóm dân quân đã ăn sâu vào hệ thống chính trị và tài chính của Iraq, có đại diện trong quốc hội và duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Tehran.
Tuy nhiên, ông Silliman nhìn thấy một điểm tích cực tiềm tàng. Khi quân đội Mỹ không còn hiện diện để trở thành mục tiêu tập hợp lực lượng, các nhóm dân quân có thể mất đi một công cụ chính trị quan trọng, từ đó tạo thêm dư địa cho Baghdad gây sức ép với những bên không tuân thủ.
Dẫu vậy, ông cảnh báo về một nguy cơ nghiêm trọng hơn:
"Tôi đã trao đổi với nhiều thủ tướng Iraq, từ trước cả thời gian tôi làm đại sứ, và họ đều lo ngại điều này có thể dẫn tới xung đột nội bộ, thậm chí là nội chiến tại Iraq."
Ông Saeed cũng lo ngại khả năng IS trỗi dậy trở lại, tương tự những gì diễn ra sau đợt rút quân của Mỹ năm 2011. Ông nhắc lại rằng sau khi quân đội Mỹ rời đi, chính phủ do người Shiite lãnh đạo ở Baghdad đã bắt giữ và loại bỏ nhiều lãnh đạo người Sunni khỏi tiến trình chính trị. Theo ông, chiến dịch này đã đẩy không ít người Sunni về phía chủ nghĩa cực đoan và góp phần tạo điều kiện cho IS trỗi dậy.
Trong bối cảnh cộng đồng người Sunni một lần nữa lo lắng về cách họ sẽ được đối xử, ông Saeed cảnh báo nguy cơ cực đoan hóa vẫn rất đáng kể.
Ngược lại, ông Silliman lạc quan hơn khi cho rằng lực lượng an ninh Iraq hiện mạnh hơn nhiều so với một thập kỷ trước và có đủ năng lực để kiểm soát những mối đe dọa như vậy.

Nguồn hình ảnh, Gamma-Rapho/Getty Images
Ở cấp độ khu vực, các chuyên gia cho rằng việc Mỹ rút quân cũng đặt ra những câu hỏi mới về cán cân quyền lực giữa Mỹ và Iran tại Iraq.
Ông Al-Amin dự đoán Iran sẽ "củng cố ảnh hưởng nếu có thể", đồng thời cảnh báo không nên xem đợt rút quân lần này là dấu chấm hết cho sự hiện diện quân sự của Mỹ.
"Quân đội Mỹ từng rời Iraq vào năm 2011, nhưng chỉ vài năm sau lại quay trở lại. Đây là sự kết thúc của một chương, nhưng không phải chương cuối của câu chuyện," ông nói.
Minh họa: Raees Hussain



















