Chiến sự Iran khuấy đảo tiền tệ toàn cầu: Đồng tiền nào lên ngôi?

    • Tác giả, Luis Barrucho & Julia Braun
    • Vai trò, BBC World Service
  • Được đăng
  • Thời gian đọc: 9 phút

Khi cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran nổ ra vào cuối tháng Hai, hệ lụy không chỉ được cảm nhận ở Trung Đông.

Với việc cuộc xung đột này làm gián đoạn hoạt động vận chuyển thương mại và dòng chảy hàng hóa trên toàn cầu, giá dầu tăng vọt, đẩy lạm phát tăng cao và làm rung chuyển các thị trường trên khắp thế giới.

Như thường thấy trong thời kỳ bất ổn, một số nhà đầu tư đã quay lưng với các khoản đầu tư có tiềm năng rủi ro hơn ở các thị trường mới nổi, chuyển tiền của họ sang đồng đô la Mỹ, vốn từ lâu được coi là nơi trú ẩn an toàn.

Điều này đã tác động đến nhiều loại tiền tệ - một số đồng tiền đã giảm giá trị, trong khi những đồng tiền khác biến động mạnh hơn và số thậm chí còn tăng giá.

"Giá dầu ảnh hưởng đến tất cả mọi người… nhưng biến động tiền tệ có thể khuếch đại hoặc làm giảm nhẹ tác động đó," André Perfeito, một nhà kinh tế Brazil đứng đầu công ty tư vấn APCE, cho biết.

Vậy, khi kết hợp với các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế, những biến động tiền tệ này có ý nghĩa gì đối với từng quốc gia và người dân của họ?

Những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất

Các quốc gia nhập khẩu phần lớn năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ, nằm trong số những nước có đồng tiền chịu áp lực mạnh.

Trong số đó có Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Thái Lan và Ai Cập, tất cả đều phải đối mặt với áp lực mới từ chi phí nhiên liệu cao hơn và tình trạng thiếu hụt ngoại tệ kéo dài.

Khi các nhà đầu tư chuyển tiền sang đô la Mỹ, nhu cầu đối với những đồng tiền này giảm xuống và giá trị của chúng suy yếu, từ đó làm tăng chi phí trả nợ phát hành bằng đô la.

Dầu mỏ và các loại hàng hóa khác - vốn bị ảnh hưởng bởi sự phong tỏa ở eo biển Hormuz - cũng thường được định giá bằng đô la Mỹ.

Khi một đồng tiền mất giá, hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn, ảnh hưởng đến mọi thứ từ năng lượng đến nhựa và phân bón. Điều đó tác động đến giá cả thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu hàng ngày trong các cửa hàng.

Tại Ấn Độ, đồng rupee đã giảm khoảng 5% so với đô la Mỹ kể từ khi chiến tranh Iran bắt đầu và liên tục chạm mức thấp kỷ lục khi giá dầu tăng cao.

Đồng tiền của Ấn Độ vốn đã suy yếu trước cuộc xung đột, và tác động của chiến tranh đã làm xu hướng đó trở nên trầm trọng hơn.

Một số ngân hàng trung ương đã phản ứng bằng cách tăng lãi suất và bán ra một phần dự trữ đô la Mỹ nhằm hỗ trợ giá trị đồng tiền của họ.

Ngân hàng Trung ương Indonesia đã liên tục bán đô la và mua đồng tiền nội tệ, đồng rupiah, để thúc đẩy nhu cầu sử dụng.

Khi lãi suất tăng, người dân nhận được lợi tức cao hơn từ tiền tiết kiệm, nhưng đồng thời họ cũng phải trả nhiều hơn cho các khoản nợ như thế chấp và các khoản vay khác.

Biến động mạnh và có xu hướng tăng

Một nhóm đồng tiền khác biến động mạnh hơn, với các đợt tăng giảm lớn theo cả hai chiều.

Các quốc gia như Nam Phi, Colombia, Chile và Mexico nằm trong nhóm này.

Những đồng tiền này thường phản ứng mạnh với tâm lý thị trường toàn cầu: suy yếu khi nhà đầu tư tìm đến các tài sản an toàn như đô la Mỹ, nhưng có thể phục hồi nhanh chóng khi giá hàng hóa tăng hoặc khi nhu cầu chấp nhận rủi ro quay trở lại.

Một số nước xuất khẩu năng lượng, trong đó có Brazil và Malaysia, đã phần nào hưởng lợi từ giá dầu cao hơn, điều này giúp tăng doanh thu xuất khẩu và duy trì sự quan tâm của nhà đầu tư.

Các ngân hàng, gồm cả Goldman Sachs và Bank of America, đã nhấn mạnh nhu cầu mạnh mẽ đối với trái phiếu chính phủ Brazil và cổ phiếu doanh nghiệp trong các báo cáo gửi khách hàng vào tháng Tư, trong đó Goldman Sachs gọi Brazil là lựa chọn hàng đầu trong số các thị trường mới nổi.

Tuy nhiên, ông Martín Castellano, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu Mỹ Latinh tại Viện Tài chính Quốc tế, cho biết giá năng lượng cao hơn có thể đẩy lạm phát ở Brazil tăng lên, làm trì hoãn việc cắt giảm lãi suất và ảnh hưởng đến dòng vốn.

Brazil cũng nhập khẩu các sản phẩm lọc dầu như xăng và dầu diesel, đẩy giá nhiên liệu trong nước lên cao.

Ngoài ra, sự bất ổn chính trị trước cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 10/2026 "sẽ làm tăng phí bù rủi ro đối với tỷ giá hối đoái", nhà kinh tế Luiza Pinese của XP, một công ty quản lý đầu tư của Brazil, đã viết trong một báo cáo gần đây.

Một nhóm tiền tệ khác lại duy trì khả năng phục hồi tốt hơn vì những lý do khác nhau.

Đồng tiền của Trung Quốc vẫn tương đối ổn định, một phần nhờ vào các biện pháp kiểm soát vốn và can thiệp chính sách nhằm hạn chế những biến động mạnh.

Những biện pháp này bao gồm hạn chế dòng tiền ra vào Trung Quốc và sự can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương để quản lý chặt chẽ tỷ giá hối đoái của đồng nhân dân tệ.

Rúp Nga, một trong những đồng tiền hoạt động tốt nhất so với đô la Mỹ kể từ khi chiến tranh Iran bùng nổ, cũng được hỗ trợ bởi doanh thu từ năng lượng cao và các biện pháp kiểm soát vốn nghiêm ngặt, bao gồm các biện pháp yêu cầu các nhà xuất khẩu chuyển đổi thu nhập ngoại tệ thành rúp và hạn chế dòng tiền chảy ra khỏi đất nước.

Còn các nền kinh tế phát triển thì sao?

Các đồng tiền trú ẩn an toàn truyền thống đã tăng giá vào thời điểm bắt đầu khủng hoảng khi các nhà đầu tư tìm kiếm tài sản toàn. Đồng đô la Mỹ và đồng franc Thụy Sĩ đều đạt đỉnh trước khi giảm trở lại mức tương tự như trước chiến tranh.

Trong khi đó, các đồng tiền gắn với dầu mỏ, chẳng hạn như krone của Na Uy, đã được hưởng lợi đáng kể từ giá dầu thô tăng cao.

Trong khi đó, yên Nhật lại không trở thành một đồng tiền trú ẩn an toàn điển hình mà bị suy yếu, một phần vì Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào năng lượng nhập khẩu.

Đồng đô la của Canada và Úc cũng được hưởng lợi từ giá cả hàng hóa xuất khẩu của các nước này tăng mạnh, chẳng hạn như dầu thô, khí đốt, kim loại, quặng sắt và than đá, mặc dù những lo ngại về tăng trưởng toàn cầu và căng thẳng thương mại đã hạn chế phần nào các mức tăng đó.

Euro và bảng Anh cũng trải qua những đợt biến động riêng, do lo ngại về chi phí năng lượng cao hơn, lạm phát dai dẳng và tăng trưởng chậm lại trên khắp châu Âu.

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?

Theo các nhà kinh tế, mặc dù các cuộc không kích ban đầu nhắm vào Iran đã khiến các nhà đầu tư chuyển sang các tài sản an toàn hơn và làm đồng đô la Mỹ mạnh lên, nhưng kể từ đó đồng tiền Mỹ đã suy yếu, điều có thể giúp ích cho các thị trường mới nổi.

"Đô la Mỹ yếu hơn thường đồng nghĩa với điều kiện tiền tệ dễ chịu hơn, nhiều dư địa hơn để cắt giảm lãi suất ở các nước đang phát triển và mức độ né tránh rủi ro thấp hơn - tất cả đều có lợi cho các thị trường mới nổi," các nhà kinh tế tại công ty đầu tư toàn cầu của Anh, AllianceBernstein, công ty quản lý đầu tư có trụ sở tại Mỹ, cho biết trong một báo cáo gần đây.

AllianceBernstein nói thêm rằng vai trò của đô la Mỹ vẫn rất quan trọng, vì phần lớn nợ của các nền kinh tế mới nổi được vay bằng đồng tiền này và các mặt hàng chủ chốt cũng được định giá bằng USD, đồng nghĩa với việc USD yếu hơn thường cải thiện triển vọng của họ.

Tuy nhiên, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hồi tháng Tư đã cảnh báo rằng những gián đoạn kéo dài từ cuộc chiến Iran đang đẩy nền kinh tế toàn cầu tiến gần tới kịch bản "bất lợi", được đánh dấu bằng sự kết hợp giữa tăng trưởng yếu và lạm phát cao hơn.

Theo kịch bản này - trong đó giá dầu vẫn ở mức cao, lạm phát trở nên kém ổn định hơn và điều kiện tài chính bị thắt chặt - tăng trưởng toàn cầu có thể giảm còn 2,5%, trong khi lạm phát tăng lên 5,4%, so với dự báo hiện tại của IMF là tăng trưởng 3,1% và lạm phát 4,4%.

IMF cũng đã đưa ra một kịch bản nghiêm trọng hơn, trong đó tăng trưởng toàn cầu giảm xuống còn 2% và lạm phát vượt quá 6%. Dự kiến IMF sẽ cập nhật lại dự báo vào tháng Bảy.