Tuyên bố 'Đài Loan là một phần của Trung Quốc', Việt Nam có lợi và hại gì?

Thời gian đọc: 12 phút

Một cuộc diễn tập của Đài Loan trên đảo Ba Bình gần đây đã vấp phải phản ứng từ Việt Nam, khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao hôm 26/4 cho biết Hà Nội phản đối mọi hành động của nước ngoài tại Trường Sa, Hoàng Sa mà không được Việt Nam cho phép.

Đây là lần thứ hai trong vòng hai tuần, Đài Loan xuất hiện trong các tuyên bố chính thức của Việt Nam.

Trước đó, trong tuyên bố chung với Trung Quốc hôm 15/4, Việt Nam một lần nữa hứa "kiên định thực hiện chính sách 'một Trung Quốc'," "Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc" và "kiên quyết phản đối hành động chia rẽ 'Đài Loan độc lập' dưới mọi hình thức" – động thái khiến Đài Bắc nhanh chóng phản bác, cho rằng đây là thông tin sai lệch.

Tuyên bố của Việt Nam được đưa ra sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận BìnhTổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có cuộc gặp tại Bắc Kinh, có nội dung về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới.

Truyền thông Việt Nam vào thời điểm đó đồng loạt trích toàn văn tuyên bố, trong đó có đoạn:

"Phía Việt Nam tái khẳng định kiên định thực hiện chính sách 'một Trung Quốc', công nhận trên thế giới chỉ có một Trung Quốc, Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc, Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc.

Ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ 'Đài Loan độc lập' dưới mọi hình thức, nhất quán ủng hộ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước."

Tuyên bố trên đã lập tức khiến Bộ Ngoại giao của Đài Loan lên tiếng đáp trả.

Bộ Ngoại giao Đài Loan hôm 17/4 khẳng định rằng "Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) là một quốc gia tự do và dân chủ, và không bên nào – cả Đài Loan lẫn chế độ chuyên chế Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa – lệ thuộc vào bên kia".

Đài Loan nhấn mạnh Trung Quốc chưa bao giờ cai trị Đài Loan và Đài Loan chắc chắn không phải là một phần của Trung Quốc.

"Chỉ có chính phủ được bầu cử dân chủ của Đài Loan mới có quyền đại diện cho người dân Đài Loan trên trường quốc tế, bao gồm cả trong hệ thống Liên Hợp Quốc. Trung Quốc và các quốc gia đồng tình với các tuyên bố của nước này không có quyền bình luận về những vấn đề như vậy," tuyên bố nêu.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, các nhà quan sát cho rằng trước chuyến thăm của ông Tô Lâm, Việt Nam chắc chắn đã chịu áp lực phải nhắc lại quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về vị thế của Đài Loan.

Tiến sĩ Elizabeth Larus, nghiên cứu viên khách mời của Bộ Ngoại giao Đài Loan năm 2026, cho rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc đang công khai tận dụng mọi cơ hội để củng cố quan điểm của mình, bất kể bằng những tuyên bố chung lặp đi lặp lại với Việt Nam, hay bằng những cách khác như gây sức ép lên các chính phủ châu Phi.

Tuần trước, Tổng thống Đài Loan Lại Thanh Đức đã phải hủy chuyến công du tới Eswatini – một trong 12 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Đài Loan và là nước duy nhất tại châu Phi công nhận chủ quyền của Đài Bắc – vì bị một số nước từ chối cho bay qua không phận.

Seychelles, Mauritius và Madagascar đã thu hồi giấy phép bay của chuyên cơ Tổng thống chở ông Lại sau "áp lực mạnh mẽ" và sự cưỡng ép về kinh tế từ Trung Quốc, một quan chức Đài Loan cho biết.

"Chúng ta có thể dự đoán hành vi này sẽ tiếp diễn trong tương lai khi Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày càng tìm cách xóa bỏ Đài Loan khỏi cộng đồng quốc tế," Tiến sĩ Larus, cũng là nghiên cứu viên cao cấp kiêm nhiệm tại Pacific Forum (Diễn đàn Thái Bình Dương), nói với BBC.

Ngoài ra, chuyên gia về an ninh hàng hải và chính sách của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương này nhấn mạnh rằng một điều đáng chú ý là tuyên bố chung cho thấy Việt Nam và Trung Quốc ủng hộ sự phát triển hòa bình của quan hệ xuyên eo biển và sự thống nhất hòa bình giữa hai bên.

"Bằng cách thêm cụm từ này vào tuyên bố chung, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang muốn thể hiện mình đi theo 'con đường chính nghĩa' trong tranh chấp giữa Trung Quốc và Đài Loan, tạo ấn tượng rằng đây là một quốc gia yêu chuộng hòa bình," bà Larus giải thích.

Trong khi đó, Phó giáo sư khoa học chính trị Ian Chong từ Đại học Quốc gia Singapore cho rằng Bắc Kinh đang cố gắng thuyết phục càng nhiều quốc gia càng tốt nhắc lại lập trường của mình về Đài Loan.

"Đây là một nỗ lực nhằm tạo ấn tượng rằng Trung Quốc có sự ủng hộ quốc tế đằng sau các tuyên bố của mình về Đài Loan," ông Ian Chong nói với BBC hôm 24/4.

Theo học giả này, một điểm đáng chú ý là nguyên tắc "một Trung Quốc" của Bắc Kinh là lập trường riêng của họ, khác với chính sách "một Trung Quốc" của nhiều quốc gia khác.

Chính sách "một Trung Quốc" của Trung Quốc khẳng định Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời và chỉ có một chính phủ hợp pháp đại diện cho toàn bộ Trung Quốc.

Trong khi đó, đối với nhiều quốc gia khác, "một Trung Quốc" thường chỉ dừng ở việc ghi nhận lập trường của Bắc Kinh, không đồng nghĩa với việc hoàn toàn đồng ý.

Lợi và hại gì cho Việt Nam?

Theo các nhà quan sát, Việt Nam và một số quốc gia khác đôi khi sẵn sàng nhắc lại quan điểm của Trung Quốc vì các tuyên bố về vị thế của Đài Loan không có tác động ngay lập tức đến họ, trong khi việc làm hài lòng Bắc Kinh có thể giúp cải thiện quan hệ, thậm chí mang lại lợi ích nhất định.

"Bắc Kinh đôi khi đưa ra những lợi ích cho các quốc gia khác phù hợp với lợi ích của chính họ, và có thể hạn chế hợp tác hoặc thậm chí áp đặt một cái giá đối với những nước không đồng tình," Phó giáo sư Ian Chong đánh giá.

Theo ông, giới lãnh đạo Việt Nam có thể cho rằng họ không mất gì, thậm chí có thể đạt được lợi ích ngắn hạn, khi đồng thuận với Trung Quốc.

Trong khi đó, Tiến sĩ Elizabeth Larus cho rằng lợi ích của Hà Nội là duy trì quan hệ chính trị và kinh tế tốt đẹp đối với Bắc Kinh.

Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, đồng thời đứng thứ hai về xuất khẩu. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN.

Theo hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư của Việt Nam (FIA), trong tháng 1/2026, Trung Quốc là đối tác dẫn đầu về số dự án đầu tư mới (chiếm 31,52%).

Số liệu từ Hà Nội cho biết kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc năm 2025 đạt 256 tỷ USD. Để so sánh, con số giữa Việt Nam và Đài Loan trong năm 2025 là 32,5 tỷ USD.

Tuy nhiên, Đài Loan luôn nằm trong nhóm nhà đầu tư nước ngoài lớn và ổn định tại Việt Nam từ những năm 1990.

Tính đến cuối năm 2024, Đài Loan là nhà đầu tư lớn thứ tư của Việt Nam, có gần 3.200 dự án với tổng vốn đăng ký vượt 39,5 tỷ USD.

Xét cán cân giữa Trung Quốc và Đài Loan, theo bà Larus, rủi ro khi Việt Nam ra tuyên bố rằng "Đài Loan là một phần của Trung Quốc" là không đáng kể.

"Mặc dù không có quan hệ ngoại giao chính thức, Việt Nam và Đài Loan vẫn duy trì quan hệ kinh tế mạnh mẽ.

"Rủi ro các doanh nghiệp Đài Loan rút vốn đầu tư khỏi Việt Nam là rất thấp vì họ đã thận trọng về mặt tài chính trong nhiều thập niên qua khi đầu tư vào Việt Nam bất chấp việc Hà Nội kiên định với chính sách 'một Trung Quốc' của Bắc Kinh," bà Larus nêu quan điểm.

Mặc dù vậy, một điều đáng lưu ý mà Phó giáo sư Ian Chong đề cập với BBC là quan điểm của Việt Nam và một số quốc gia đồng tình với Trung Quốc về vấn đề Đài Loan dựa trên giả định rằng sẽ không có thay đổi nào trên thực tế về quyền kiểm soát hòn đảo tự trị trong tương lai gần.

Nếu kịch bản Trung Quốc xâm lược và kiểm soát Đài Loan xảy ra, chuyên gia này cho rằng điều đó đồng nghĩa với việc Bắc Kinh có thể chi phối các tuyến hàng hải, đường bay và cáp ngầm kết nối Việt Nam với các khu vực khác của Đông Bắc Á, như Nhật Bản và Hàn Quốc.

Đồng thời, Bắc Kinh cũng sẽ ở vị thế mạnh hơn để thống trị Biển Đông nếu kiểm soát được Đài Loan.

Những hệ lụy này được đánh giá là lớn hơn so với lợi ích ngắn hạn, song theo vị phó giáo sư từ Đại học quốc gia Singapore, Hà Nội có thể cho rằng hiện tại chưa cần phải lo lắng về điều đó.

Vì sao Đài Loan không trực tiếp chỉ trích Việt Nam?

Trong tuyên bố phát đi hôm 17/4, Bộ Ngoại giao Đài Loan nhấn mạnh Trung Quốc và các quốc gia đồng tình với các tuyên bố của nước này không có quyền bình luận về chủ quyền của mình.

Bên cạnh đó, Đài Bắc kêu gọi các quốc gia liên quan "không phớt lờ các sự kiện lịch sử và cần tính đến bản chất toàn trị và chuyên chế của Trung Quốc, nhằm tránh lặp lại các tuyên bố bóp méo sự thật, làm suy yếu chủ quyền của Đài Loan hoặc tìm cách biện minh cho chủ nghĩa bành trướng độc đoán".

Tuyên bố trên không nêu đích danh Việt Nam, theo Tiến sĩ Larus, là vì Đài Loan hiểu rõ rằng Trung Quốc có kinh nghiệm lâu dài và sâu rộng trong việc gây ảnh hưởng chính trị, kinh tế và xã hội đối với nước láng giềng phương nam.

"Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam mạnh hơn quan hệ Đài Loan-Việt Nam, điều này hạn chế ảnh hưởng của các tuyên bố do Đài Loan đưa ra," nghiên cứu viên khách mời của Bộ Ngoại giao Đài Loan đánh giá.

Phó giáo sư Ian Chong lại cho rằng: "Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) không phụ thuộc vào Trung Quốc và đã là một quốc gia có chủ quyền, độc lập. Họ không cần phải chỉ trích Việt Nam để có được điều đó."

Theo ông, Đài Loan là một đối tác thương mại và đầu tư lớn của Việt Nam, đồng thời là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng điện tử của quốc gia 100 triệu dân, nên Đài Bắc có lý do để duy trì quan hệ ổn định với Việt Nam miễn là Hà Nội không gây tổn hại đến các lợi ích khác của họ.

Trên thực tế, cả thương mại Đài Loan-Việt Nam lẫn đầu tư của Đài Loan vào Việt Nam đang tăng trưởng, khiến hai bên trở thành đối tác trong bất kỳ chiến lược giảm thiểu rủi ro và đa dạng hóa nào.

"Nếu Đài Bắc muốn phát tín hiệu, họ có thể sử dụng các đòn bẩy kinh tế khác ít mang tính công khai hơn," ông Chong cho biết.

Đánh đổi?

Liên quan đến ứng xử giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong một bài nghiên cứu của Cambridge xuất bản tháng 1/2026, nhóm tác giả Hàn Quốc cho rằng Việt Nam đang "dịu giọng" với Trung Quốc hơn về các vấn đề Biển Đông để đổi lấy việc giảm bớt áp lực từ Trung Quốc.

Tiến sĩ Larus cho rằng Hà Nội có thể đang công khai giảm nhẹ giọng điệu với Bắc Kinh về các vấn đề Biển Đông, nhưng căng thẳng vẫn tồn tại.

Trên thực tế, Trung Quốc đã tăng cường sự hiện diện của Hải cảnh và tăng cường tuần tra hải quân tại các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, thường xuyên nhắm mục tiêu vào các tàu cá Việt Nam.

Nước này cũng đang bồi đắp và xây dựng ồ ạt trên Đá Hải Sâm, thực thể nằm trong cụm Lưỡi Liềm ở quần đảo Hoàng Sa.

Một báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) hôm 19/3 cho biết với tốc độ được thể hiện qua các hình ảnh vệ tinh, Đá Hải Sâm có thể trở thành thực thể lớn nhất của Trung Quốc ở Hoàng Sa và có thể là toàn bộ Biển Đông, ngang bằng hoặc thậm chí vượt qua Đá Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa.

Đáp lại, Việt Nam cũng đẩy mạnh chiến dịch bồi đắp đảo trên toàn bộ 21 thực thể do mình kiểm soát ở quần đảo Trường Sa và có khả năng sẽ bắt kịp, thậm chí vượt qua quy mô của Trung Quốc.

"Rõ ràng, Việt Nam đang chống lại các bước tiến xa hơn của Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông bằng cách tăng cường củng cố các vị trí của mình trong khu vực," Tiến sĩ Larus nói.

Trong khi đó, Phó giáo sư Ian Chong cho rằng không có gì ngạc nhiên nếu Trung Quốc đang cố gắng khiến Việt Nam đồng ý với lập trường của mình, có thể để đổi lấy việc giảm bớt áp lực.

Ngoài Việt Nam, Trung Quốc đang cố gắng thuyết phục nhiều quốc gia khác phản ánh lập trường của họ về Đài Loan, chẳng hạn như nỗ lực khiến Hàn Quốc ghi Đài Loan là "Đài Loan, Trung Quốc" trong một số văn bản và biểu mẫu chính thức.

"Chừng nào giới lãnh đạo Việt Nam còn tin rằng việc này không tốn một cái giá đắt và mang lại một số lợi ích, thì không có lý do gì Hà Nội lại không làm theo – ngay cả khi Bắc Kinh về sau có thể rút lại bất kỳ lời hứa nào đã đưa ra, như họ đã từng làm trong quá khứ," học giả này kết luận.

Xem thêm: