You’re viewing a text-only version of this website that uses less data. View the main version of the website including all images and videos.
Tưởng niệm Phạm Thiên Thư
- Tác giả, Nguyễn Đức Tùng
- Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Canada
- Thời gian đọc: 12 phút
Khi thi sĩ ra đi, thế gian trở thành vắng vẻ.
Tôi nhớ con hẻm Sài Gòn, một buổi trưa hè, tôi đi với nhà thơ Du Tử Lê đến thăm Phạm Thiên Thư, nhưng ông đi vắng, nghe nói ông đi bắt mạch chẩn bệnh đâu đó. Tôi nhớ cái hẻm, màu ánh sáng hắt lên từ những bức tường xám và vàng, tựa tranh hội họa của phái ấn tượng. Ra về, dặn lòng trở lại, nhưng rồi không. Ba mươi mùa hè trước đó, ở Huế, trên sân trường Hàm Nghi, tôi nhận được tập thơ Động hoa vàng khổ nhỏ, sang trọng, bìa màu vàng, bìa sau vẽ tác giả mặc áo cà sa với những lời của Thích Minh Châu, cuối tập là lời bạt của Joseph Huỳnh Văn. Đó là cuốn sách duy nhất mà anh tôi để lại, nên khi vượt biên, tôi mang theo, rồi đánh mất trong ngày lưu lạc. Những người đọc Phạm Thiên Thư ở miền Nam đều đọc như thế: câu thơ diễm lệ đọc trong bàng hoàng khói lửa.
Ở cuối thời kỳ hai mươi năm của văn học miền Nam, hai nhà thơ Du Tử Lê và Phạm Thiên Thư cùng được giải thưởng văn chương toàn quốc, cùng năm, 1973. Đó là giải thưởng cuối cùng, vì sau Mùa hè đỏ lửa và hiệp định Paris, người Việt lo đánh trận và chạy giặc, không ai hơi sức đâu mà nghĩ:
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Vì văn chương viết cho cái đẹp cần một thiết chế văn minh nâng đỡ nó. Trước khi cái đẹp đưa tay cứu rỗi xã hội, xã hội phải cứu nó trước đã.
Bi kịch lớn nhất của ông là xung đột giữa cái tầm thường của đời thật và cái cao quý của thơ ca. Khi cuộc chiến ngày càng khốc liệt, nhiều nhà thơ miền Nam có khuynh hướng xa rời thế sự, đi vào đời sống nội tâm, tình yêu, trầm tư triết học. Trong một xã hội dân chủ, họ được quyền làm thế. Thực ra các nhà thơ nhà văn không có nhiệm vụ thay mặt thời đại, điều họ nói là câu chuyện riêng đời mình. Nhiệm vụ của nhà phê bình là tìm thấy ở đó thông điệp chính trị, hoàn cảnh lịch sử, nhưng đó không phải là nhiệm vụ của tác giả. Hoàng Cầm bảo tôi: nhiệm vụ của nhà thơ là sống rất thơ cuộc đời mình.
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn
Thơ ông mở ra cánh cửa vào thiền, vào tuổi trẻ. Nó nói với tôi bằng giọng hoài niệm. Giọng hoài niệm là một trong những giọng điệu cao quý. Nói về sầu thương mà nhẹ như không, thậm chí vui vẻ, thoát, như trò chơi. Khác với những nhà thơ cùng thời miền Nam và miền Bắc những năm 1970, Phạm Thiên Thư không ngại mang vào thơ nhiều xúc cảm: người để cho tình yêu tự hát.
Rồi mùa Thu cùng em đi lễ
Có con chim đậu dưới gác chuông
Con chim đậu ở đó để làm gì? Nó đậu bao lâu rồi? Bây giờ thi sĩ bỏ đi thì nó còn đó không? Đó là lời cầu nguyện dành cho tình yêu đã chết, hay cho một quê hương đổ nát? Phạm Thiên Thư vừa là người làm chứng như trong bài Em lễ chùa này, vừa là nhân vật trong Ngày xưa Hoàng thị. Thi sĩ là người bảo vệ nỗi buồn của thế gian, ôm lấy khổ đau của người khác.
Nhà thơ qua đời tháng 5 năm 2026, sau 87 năm trần thế. Đó là cuộc đời đủ dài, nhưng một nhà thơ không sống bằng thời gian vật lý, họ có thể sống ngắn hơn, hoặc dài hơn, mà không có gì thay đổi. Trưa hôm ấy tôi được gặp ông hay không gặp, mọi thứ vẫn thế, lòng yêu mến của tôi dành cho ông nguyên vẹn. Tôi tin nhiều người cũng nghĩ như tôi về một nhà thơ vừa qua đời, bàng hoàng, khóc than. Không phải khóc than cho người đã bỏ ta mà đi, mà khóc than cho chúng ta, người ở lại.
Phạm Thiên Thư là người Bắc di cư 1954, sinh năm 1940 ở Thái Bình, khi vào Sài Gòn nhà ở Tân Định, học trung học Văn Lang. Nhà thơ có lần kể rằng trong lớp trung học của ông có một cô nữ sinh tên Hoàng thị Ngọ, cũng "Bắc kỳ nho nhỏ", đẹp, tóc dài, bờ vai mảnh dẻ, tan trường cô nàng ôm cặp đi trước, chàng học trò lẽo đẽo theo sau. Khi vào đại học Vạn Hạnh, nương thân cửa thiền, mười năm sau, có lần đi qua con đường cũ, người xuống tóc vẫn nhớ kỷ niệm học trò.
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Ngày xưa Hoàng thị là câu chuyện có thật, nhưng giá trị văn học nằm ngoài chi tiết có thật. Tôi nghe nhạc Phạm Duy trước khi được đọc ca từ, Thanh Thúy là người hát đầu tiên, nâng nó lên đỉnh cao là Thái Thanh. Rồi những người về sau sẽ còn hát với giọng riêng của mình. Cũng vậy, bài thơ mỗi thế hệ đọc một khác.
Văn bản là một nhưng bối cảnh thì khác.
Lịch sử không phải là sự thật, lịch sử là sự diễn dịch sự thật.
Tàn mùa đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa tơ óng như mây
Hầu hết tình yêu đều thất bại. Con người không chấp nhận thất bại, như người chiến binh trở lại chiến trường xưa, không phải vì lòng thù hận, mà anh đi tìm ý nghĩa cho cuộc chiến đấu vô vọng, vì nhân phẩm. Phạm Thiên Thư đi giữa sự sống và suy tàn, tính dung tục và tính cao quý. Thơ ông nhiều xúc cảm hào hứng, những phút giây hạnh phúc.
Anh trao vội vàng
Chùm hoa mới nở
Tôi nghĩ, sao đời sống chúng ta bao nhiêu là khổ cực lại vẫn có những phút giây đẹp mê đến thế? Văn chương hiện nay chống lại xúc cảm. Các nhà phê bình phương Tây gọi một cách chế giễu là sentimentalism. Nhưng xúc cảm trong một loại thơ thật, tiểu thuyết thật, không phải nằm ở tu từ hoa mỹ, mà nằm ở rung động chân thật. Đối với các nước phương Tây, chủ nghĩa lãng mạn đã qua từ lâu, nhưng ở Việt Nam do sự đứt gãy đột ngột từ 1945, khuynh hướng lãng mạn chưa bao giờ đi đến tận cùng của nó. Cũng vậy, dân tộc chưa bao giờ sống trọn vẹn tuổi trẻ. Thơ Phạm Thiên Thư là sự sống trở lại điều ấy, tuổi trẻ ấy, sự lớn lên ngược chiều.
Nhà thơ không chỉ làm thơ tình, ông còn viết đạo ca, thơ lịch sử, và sau năm 1975 còn viết nhiều bài khác, có bài ca ngợi cách mạng vô sản, hình như không được thành công lắm, cũng như sách chữa bệnh cổ truyền. Tôi không biết nếu không có sự kiện 1975, ông có còn tiếp tục mặc áo cà sa và làm thơ tình nữa hay không, hay ông sẽ hoàn tục, cưới vợ một đôi lần, đi chữa bệnh như ông đã làm trong đời thực, nhưng trong những năm tháng ngắn ngủi, cao vòi vọi, cùng với âm nhạc Phạm Duy, thơ ông cất lên tiếng nói của tuổi trẻ, một tuổi trẻ thơ mộng, tan nát, dũng cảm, và tương đối độc lập, bên ngoài ảnh hưởng của các lực lượng chính trị. Đặc điểm của tài năng là nếu không có họ xuất hiện, con người không bao giờ biết đến cái mà họ tạo ra, cũng như không có Nguyễn Du thì không có Kiều, không ai thay thế được.
Tính chất không thay thế này của các nhà thơ, nhà văn làm cho họ có địa vị đặc biệt trong tâm hồn dân tộc. Phạm Thiên Thư đã bằng tài năng riêng của mình, viết về tình yêu và sự chết, cái đẹp và cái hư ảo, và đó là những đề tài phi thời gian, nhưng cảm xúc của ông lại cụ thể, như câu chuyện về Hoàng thị Ngọ mà ông kể lại. Thời đại đã khác, ngày nay người ta không viết như ông nữa, nhưng tính sang trọng độc đáo của ngôn ngữ thời ấy đã trở nên bền vững. Người trẻ hôm nay nghe lại bài hát Em lễ chùa này, Đưa em tìm động hoa vàng, lập tức sống lại một hoàn cảnh cao quý mà dân tộc đã lỡ tay đánh mất.
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Như một tu sĩ, Phạm Thiên Thư là trường hợp phá rào, dù không hẳn nổi loạn, như Thích Minh Châu viết trong lời đề từ bay bổng trong tập Động hoa vàng, là đã "cả gan thi hóa Kim cương kinh". Đó là sự vượt thoát về văn hóa của một người ba mươi tuổi, may mắn sống một tuổi trẻ sâu sắc. Thơ ông là niềm vui nghiêm trang bí ẩn, là câu chuyện về tính hư vô của đời, là diễn ngôn thứ hai về triết học Phật giáo, nhưng cũng là lời kể chuyện chân thật, từ nỗi khổ chúng sanh có sanh có diệt. Thơ ấy cất lên một cách đột ngột giữa bầu trời lửa đạn và tự do, ngay lập tức được thừa nhận bởi giải thưởng Văn chương toàn quốc. Mái chùa Phật giáo, trường đại học Vạn Hạnh, xã hội miền Nam đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho truyền thống lãng mạn mới. Trong sự tưởng tượng của mình, Phạm Thiên Thư bỏ qua sự đồng nhất giữa không gian và thời gian, giữa bối cảnh lịch sử và xúc cảm cá nhân, một cách gián tiếp thách thức truyền thống văn học. Ông không phải, tuy vậy, là người làm mới ngôn ngữ, và trong nhiều bài thơ, ngay cả tập Đoạn trường vô thanh, thơ ông vẫn thuộc truyền thống cũ. Khi nói cũ, tôi không nói về tính thời gian mà nói về khả năng bị vượt qua. Thơ Phạm Thiên Thư không tạo ra tranh luận gay gắt vì những năm 1970 ở miền Nam tình thế đã gấp gáp, và sau khi kết thúc chiến tranh, đã có hòa bình, chúng ta cũng không có một nền tảng văn học nào có khả năng tạo ra không khí tranh luận, và đó là sự thiệt thòi của nhiều nhà thơ. Thơ Phạm Thiên Thư đầy ẩn dụ sáng tạo, nhưng ông cũng sử dụng nhiều hình ảnh quy ước, như hoa đào, suối, hạc trắng, tóc dài, nhưng những hình ảnh quy ước ấy có thể hiểu được phần nào, trong thơ có vần và trước ngưỡng tiếp nhận của thời đại ông. Phạm Thiên Thư là nhà thơ cuối cùng của một truyền thống lớn, không phải vì sau những thành tựu của ông là sự sụp đổ của miền Nam, mà vì truyền thống thẩm mỹ ấy, dù được nuôi dưỡng một cách kiên tâm, đã đến lúc từ giã.
Phạm Thiên Thư trở thành hình ảnh tiêu biểu của người Việt thời loạn, là bi kịch giữa hai cuộc đời, thoắt gãy một cành: một cuộc đời nuôi dưỡng sự sáng tạo thơ ca và một cuộc đời ghẻ lạnh. Người thơ mơ ước:
Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca
Đó là giấc mơ không thành, trong hòa bình bẽ bàng. Trong khi Trịnh Công Sơn là tiếng nói cất lên từ chiến tranh thì Phạm Thiên Thư là tiếng nói bên ngoài chiến tranh, an ủi vỗ về. Cùng thời với Phạm Thiên Thư là Du Tử Lê, cả hai đều viết thơ tình. Cần nhớ rằng trong suốt một thời gian dài thơ miền Nam chính yếu không phải thơ tình, mà là thơ về thân phận, quê hương, chiến tranh. Thơ tình Phạm Thiên Thư không đau đớn như Du Tử Lê, không nhục thể như Bích Khê, không kỳ ảo như Đinh Hùng, nhưng là sự cân bằng giữa hiện thực và siêu thực. Người nữ trong thơ ông không hoàn toàn có thật nhưng cũng không phải huyền bí.
Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Đã mất, lòng nuối tiếc khôn nguôi, thi sĩ tìm về lần nữa, nhiều lần nữa:
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
Người đi tìm tình yêu cũ hay đi tìm không khí xã hội cũ, tôi không biết, nhưng thơ ấy dự báo.
Một bài thơ chỉ bộc lộ một nửa.
Sự thất bại của một số cái đọc hiện nay là không đọc được hạ văn bản (subtext), tức là ý nghĩa bên dưới chữ. Vì, dù vô tình hay cố ý, người viết có thể giữ lại cho mình các ý nghĩa mãnh liệt của sự vật mà người ấy nắm giữ, đôi khi nghiêm khắc cất lại, không chia sẻ, chỉ dành cho tri âm. Vì phân tích ý nghĩa không phải là công việc của tác giả. Cũng vậy, thơ tình Phạm Thiên Thư, ca khúc Trịnh Công Sơn, âm nhạc Phạm Duy và Trầm Tử Thiêng, thơ Tô Thùy Yên và Bùi Giáng, tất cả đều mở ra chỉ một nửa. Đi tìm vẻ đẹp của chúng, hoàn cảnh khách quan của chúng, những nguyên nhân chính trị, đó là công việc của người đọc và nhà phê bình.
Tôi thường đọc lại các nhà thơ theo thứ tự, từ khi họ mới viết cho đến những tác phẩm sau này, để nhìn thấy rõ chân dung. Bạn có thể thưởng thức một tác phẩm trong chính giây phút này, không cần biết đến hoàn cảnh sáng tác, nhưng cách đọc mà tôi vừa trình bày giúp tôi nhìn thấy bức tranh xã hội qua đời sống cá nhân, ý nghĩa của một hiện hữu, sự xuất hiện và sự biến mất của một thi sĩ, sự mê đắm của chàng trẻ tuổi làm vinh hiển đời đời một thiếu nữ, và do đó, một xã hội. Thơ Phạm Thiên Thư là tình yêu thống thiết đầu đời, vẻ đẹp mong manh quý giá, không khí thơ mộng, sự nhắc nhở của chúng, chính vì sự nhắc nhở thầm lặng ấy mà chúng ta có một xã hội hôm nay, tuy tan rã nhưng đang gượng dậy, một tuổi trẻ hôm nay, tuy thất lạc nhưng đang tìm về.
Ngôn ngữ Phạm Thiên Thư vốn như bài hát, chanson poétique, trước khi được Phạm Duy phổ nhạc, chúng đã được viết ra như thể để đọc và để hát cùng lúc. Bí ẩn của thơ ông nằm trong ngôn ngữ và cũng nằm trong ngữ cảnh. Người ta nói rằng thơ đã chết. Nhưng khi tôi đứng giữa đám đông, nhìn một người bước lên sân khấu, bắt đầu đọc, thì sức mạnh của ngôn ngữ làm lay động chúng ta. Bởi vì thơ chính là cuộc đời chúng ta, là số phận, sự khổ nhục và vinh hiển, và có thể, đôi khi, mặc dù không phải bao giờ cũng vậy, chiếu sáng như tấm gương chiếu vào số phận có thật của nhà thơ, trong da thịt của anh ta và ở bên ngoài da thịt ấy, tức là trong ngôn ngữ, trong ngữ cảnh, trong lòng người đọc.
Tác giả Nguyễn Đức Tùng là bác sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học, dịch giả sống tại Canada.